Món ăn này tên là hủ tiếu.
この料理はフーティウといいます。
Dưới chỗ quê bà xã, mình không biết từ khi nào nhưng, có một tiệm ăn
かみさんの実家では、いつからか分からないですが、
hình như hơi hơi nổi tiếng về món ăn bình dân này.
この庶民的な料理で少し有名っぽい店があります。
Tôi với bố bà xã cùng đi ăn sáng.
お義父さんと朝食を食べに行きました。
Thường thường khi vô tiệm ăn (nếu ăn vỉa hè thì khi ngồi ghế thấp) nào
たいていお店に入ると(路ばたの場合はあの低い椅子に座ると)
có hủ tiểu, người ta hỏi "khô hay nước?"
フーティウのあるところは、「つゆあり?つゆなし?」と訊かれます。
Hình trên là "hủ tiếu khô". Tức là không có nước sẵn ở trong tô.
上の写真はつゆなしです。つゆが別です。
Còn tô này là "hủ tiếu nước".
そしてこっちがつゆあり。
Tôi thì là phe "khô". Khi ăn món khác tôi đâu có thích xì dầu Trung Quốc,
私はつゆなし派です。他の料理を食べる時は中国醤油は好きじゃないんですが
nhưng không biết tại sao lúc ăn hủ tiếu khô thì lại thích gia vị này.
なぜかつゆなしフーティウを食べる時はこの調味料が好きなんです。
Xì dầu Trung Quốc khác hẵn với nước tương Nhật, nó có mùi đặc biết của nó mà
この中国醤油、日本のとかなり違って、日本の醤油にはない
nước tương Nhật không bao giờ có.
独特のにおいがします。
Còn món này khá phổ biến cả ở nước Nhật: bún bò Huế
この料理は、日本でもかなりおなじみの、ブンボーフエ。
Ăn ở quán ăn có vẻ xa xỉ ở Nam Sài Gòn, Quận 7.
サイゴン7区のサイゴンサウスのちょっと贅沢そうなレストランで食べました。
Phân vân không biết kêu bún bò nào (quán này có nhiều loại lắm!)
いっぱい種類があるんで、どれを頼もうか全然決まらないんで、
kêu đại "bún bò đặc biệt" vì người bán hàng bảo "đặc biệt" có đầy đủ loại thịt.
スペシャルを頼みました。お店の人によれば全種類の肉類が入ってるそうで。
Thế còn trên này cũng là bún bò Huế nhưng ăn ở địa điểm bình dân hơn.
この上のもブンボーフエですが、もっと庶民的な場所で食べました。
Cũng kêu tô "đặc biệt" nhưng mọi người nhìn thử coi.
同じくスペシャルですが、見て下さい。
Rõ ràng bún bò bình dân này có nhiều thịt hơn.
こっちの庶民向けブンボーの方が肉いっぱいです。
Mà giá cả cũng rẻ hơn nữa.
それに値段も安いです。
Có người Nhật sang Việt Nam không bao giờ ăn ở vỉa hè
日本の方でもベトナムへ行って絶対路ばたや
hoặc tiệm ăn bình dân như ở đây, thật tiếc!
こんな庶民的な店で食べない人がいますが、ほんともったいない。
Cái này là miến gà.
これはミエンガー。 (*ガーは鶏)
Tôi chưa biết miến làm bằng gì, nhưng nó dai dai, nhỏ và trong suốt.
ミエンが何でできてるかまだ知りませんが、コシがあって細くて、透明です。
Tôi ít khi ăn món này nhưng lâu lâu muốn ăn một tô.
めったに食べませんが、ときどき食べたくなります。
Còn món này là bánh đa cua, đạc sản ở Hải Phòng.
そしてこれはバィンダクア、ハイフォンの名物です。
Nhưng tôi ăn ở Biên Hòa. Tiệm này ở gần Bến xe Biên Hòa
でもビエンホアで食べました。ビエンホアバスターミナルの近くで
và bà chủ là người Hải Phòng.
女主人はハイフォン人です。
Thằng kỹ sư mà thỉnh thoảng tôi viết về nó ở nhật ký này cũng là người Hải Phòng.
ときどきここに登場する技術者君もハイフォン人です。
Tôi chợt nhớ ra nó mà có ý nghĩ mua bánh đa cua khô gửi về cho nó.
ふと彼のことを思い出してバィンダクアの乾燥麺を送ってやろうと
Thế hỏi bà chủ có bán bánh khôn không thì bả nói có.
主人に乾燥麺があるか訊くと、あると言います。
Thấy có người quan tâm tới quê hương của mình bả vui hẵn lên bắt đầu tám.
自分の故郷に関心を覚える人間を前に、俄然嬉しくなっておばさんお喋りになります。
Hỏi tôi lung tung, có vẻ như muốn làm quen với mình
わたしにも色々聞いてきて、仲良くなりたいみたいです。
mà mình cũng đâu đến nỗi khó chịu.
こちらもまんざらではありません。
Tý sau lúc tính tiền bả nói "Tô bánh đa cua nè, chai Sài Gòn đỏ nè, còn bánh khô.
ちょっと経ってお金を払う時、「一杯でしょ、サイゴン(ビール)の赤でしょ、乾麺でしょ、
Chị nói thật, lấy giá như vậy không lấy lời đâu, em ạ.
冗談抜きで、利益なしの値段ね、お兄ちゃん、
Tất cả là Năm Trăm Ngàn!!"
全部で5万ドンだよ。」
Lúc đó tôi thật sự đầu hàng. Cái cách buôn bán của bà ấy phải nói là khôn.
降参しました。このおばちゃん、商売上手です。
Món ăn này gọi là.... không biết!
これはなんて言うんだろう、、、分かりません。
Nhưng tôi ăn tô bún này ở Đà Nãng và cá bên trong là cá ngừ.
でもこのブン、ダナンで食べました。中の魚はサバです。
Trước đây tôi cứ nghĩ là "cá ngừ" là "cá ngừ đại dương",
それまで cá ngừ はマグロだと思ってたんですが、
nhưng có người dạy "cá ngừ" thật ra là "cá Saba" ở Nhật.
cá ngừ はサバだって、どなたかに教えてもらいました。
Có mỗi tô bún này thì tôi rất nhớ giá, tại vì quá rẻ.
これだけはよく値段覚えてます、すごく安かったので。
17.000 ngàn cả với chai Pepci!
ペプシとあわせて、17,000ドンなり。
Coi cuộc diễn tập mấy đứa người mẫu tương lai ở quán cà phê La Mode,
ラモードカフェで将来のモデル達のウォーキングを見たあと、
tôi hỏi tiệm cơm nào ngon gần đó thì người canh xe quán chỉ ra tiệm này.
近くでうまい飯屋があるかカフェの駐車係に訊くと、この店を教えてくれました。
Đến nơi hết hồn, hơn hai giờ chiều mà đầy khách không có chỗ ngồi luôn.
店についてびっくり、午後2時を過ぎているのに客が一杯で座れません。
Chờ một lúc mới được ăn đĩa cơm này.
少し待って、やっとこのご飯にありつけました。
Nhìn nó thì bình thường nhưng ăn cực kỳ ngon.
ぱっと見、普通ですが、これがまたえらくうまい。
Ở ngoài Bắc, người ta hình như là không ăn canh ổ khoa nhồi thịt,
北部ではニガウリの肉詰めスープ食べないんじゃないでしょうか、
nhưng tôi rất thích canh này, vừa ngon vừa khỏe.
でも、このスープ大好きです、うまくてヘルシーです。
Lúc ở Nhật cũng thỉnh thoảng ăn nữa.
日本にいる時もときどき食べます。
Món này là bánh khọt Vũng Tàu.
この料理はバィンコット・ブンタウです。
Cái bánh đó vừa mềm vừa giòn rất ngon.
この生地のところが、柔らかくてかりかりしてて美味しいです。
Đáng tiếc có cái bánh chưa chín bên trong ăn vẫn thấy nguyên bột.
惜しむらくは中まで火が通ってないのがあって、粉っぽかったです。
Thịt này là thịt đà điểu.
このお肉はダチョウです。
Nghe thấy sợ sợ nhưng ăn ngon tuyệt vời.
聞くとちょっと怖いですが、食べれば絶品です。
Mềm ơi là mềm và chảng có mùi gì.
柔らかいのなんの、そして匂いもありません。
Tôi cứ đòi ăn thịt không, không ướp gì hết.
私は何も味付けしていない肉だけのを頼むんです。
Nướng xong chấm với muối tiêu chanh, quá ngon!
焼いて、塩こしょうにレモンを搾ったやつにつけて食べれば最高!
Cảm giác bay lên trời luôn.
天にも昇るうまさです。
Nhưng mọi người không bàng lòng cuối cùng ăn phải thịt ướp xà tế.
でも皆これでは納得しません、結局サテー(と言う調味料)で味付けしたのを食べました。
Sự khác nhau về khẩu vị giữa người Việt và người Nhật thấy rõ ràng.
日本人とベトナム人の味覚の違いはがはっきりです。
Còn món này là lẩu cá xấu.
これはワニ鍋です。
Chợt thấy giống nồi của mụ phù thủy.
ぱっと見、魔女のお鍋みたいです。
Đĩa món này mang tên rất hay: Gỏi Tokyo.
このディッシュは素敵な名前です、その名も東京サラダ。
Ồ, tôi người từng sống ở Tokyo mà không biết món này?
前東京に住んでましたが、これは知りませんでした。
Món này rất lạ ở Việt Nam, trộn thịt bò sống vào mù tạt và gia vị khác.
これはベトナムでは珍しいです、生の牛肉をわさびや他の調味料で和えてます。
Tôi vẫn ăn được nhưng, mọi người cùng đi, hầu như không ai ăn được.
私はまだ食べれましたが、一緒に行ったベトナム人は、ほとんど食べれませんでした。
Kêu món này được kèm theo hộp mù tạc Wasabi
この料理を頼むともれなくわさびが一つついてきます、
chế biến theo kiểu cho phù hợp khẩu vị Trung Quốc.
が、中国風に味付けされていました。
Ở Việt Nam món ăn nhậu người ta hay cho cay.
ベトナムでは酒の肴はかなりからく(辣)くします。
Cá kèo này cũng rất cay, nhưng rất hợp ly bia ướp lạnh.
このドジョウもかなりからかったですが、冷たいビールに合いますね。
Mỳ xào mà chảng thấy mỳ ở đâu cả.
焼きそばなのですが、どこにも麺が見えません。
Cái này là nui xào ở quán cà phê Trung Nguyên trên đường Nguyễn Huệ, Sài Gòn.
これはサイゴンのグェンフエ通りにあるチュングェンカフェのマカロニ・ソテーです。
Chợt thấy giống món ăn kiểu tây, nhưng món này hoàn toàn Việt hóa rồi.
ぱっと見、西洋風ですが、ベトナム化しています。
Ăn là biết liền, vì có nước mắm.
食べれば分かりますが、ヌックマムの香りがします。
Còn đây là Highland Coffee ở đường Phạm Ngũ Lão.
これはファングーラオ通り沿いのハイランドコーヒーです。
Nghe đâu có người nói hệ thống quán này chiếm vị trí của
どこかで誰かがこのチェーンをベトナムの
Starbucks Coffee ở Việt Nam.
スターバックスと言っていましたが、
nhưng theo tôi chảng được.
全然駄目です。
Không ngon mà mắc nữa, Trung Nguyên còn ngon hơn nhiều.
美味しくないうえ高い。チュングェンの方が全然美味しいです。
Bánh mỳ tỏi này của Pizza Hut ở siêu thị Big C ở ngã ba Vũng Tàu, Quốc Lô 1.
このガーリックトーストは国道一号線ブンタウ交差点にある Big C スーパーのピザハットのです。
Trước kia siêu thị này tên là "siêu thị Cora" bây giờ đổi tên sang Big C.
前はこのスーパー「Coraスーパー」でしたが「Big C」に変わりました。
Nhưng biển chỉ đường ở Quốc Lộ 51, vẫn ghi "Cora",
でも国道51号線にある標識はまだ「Cora」でした。
tình trạng này giống Sân bóng chày Seibu Dome, ở Saitama.
埼玉の「西武ドーム」みたいな状況ですね。
Cái này là kem dừa.
これはココナッツアイス。
Nghe em gaí vợ nói cô ấy sáng nào ăn cái này, sau khi về Việt Nam.
かみさんの妹はベトナムに帰ったあと毎朝これを食べてるそうです。
Mập ra cũng phải thôi.
太るのも当然だね。
Còn tấm hình này chụp ở Nhà dưới quê bà xã là Trảng Bom, Đông Nai.
それでこの写真はドンナイ省チャンボムのかみさんの実家で撮りました。
Ăn vịt quay với bia ướp lạnh thật sướng!
ガチョウの丸焼きを食いながら、冷たいビールを飲むのは最高です。
4 件のコメント:
ベトナムの料理色々食べていたね。
ベトナム語が本当に上手。
ベトナムの南に住んでいたか。
文の表現は南弁らしいよ。
hihi, hôm nay tình cờ đọc blog của anh, anh viết thú vị quá! Em vừa đọc vừa cười chảy cả nước mắt:D. Lại thèm ăn đồ ăn Vn nữa (^^).
Em là sinh viên, đang sống ở Tokyo. Rất vui được làm quen với anh (và có thể là chị nhà anh nữa - em đoán chị í là người Việt Nam phải không ạ:D)
Bài viết của anh rất hay. Nhưng hình như anh bị "mua đắt" rồi.
Chimbocauさんへ
こんにちは、僕は東京に住んでいます。今月26に帰国します、今日はベトナムの料理テーマを読んだが、楽しかった。でもベトナム語ちょっと間違いが有る。
「Tất cả là Năm Trăm Ngàn!!"
全部で5万ドンだよ。」->正しいのは(Tất cả là năm mươi nghìn đồng!!). Thật ra một mình ăn thì đâu tới năm trăm nghìn (*_*).
コメントを投稿